cbksv 2

Những nội dung sửa đổi lớn và điểm mới...của Bộ Luật hình sự năm 2015

Thứ năm - 29/03/2018 09:22
CHUYÊN ĐỀ
NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI LỚN VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI
TRONG PHẦN CHUNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
 
       PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình.
                                                    Bí thư Trung ương đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
 
Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Để góp phần triển khai, thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đã đặt ra, trong phạm vi chuyên đề này, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về những nội dung sửa đổi lớn và những điểm mới sửa đổi, bổ sung trong Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015.
I. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI LỚN CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm có 3 Phần, 26 chương, 426 điều. So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật này bãi bỏ 03 điều; giữ nguyên 30 điều; sửa đổi, bổ sung 396 điều, với nhiều nội dung được sửa đổi lớn như sau:
1. Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng theo tinh thần đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 thể chế hóa chủ trương của Đảng về hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt ngoài tù, cụ thể:
- Bộ luật quy định hình phạt tiền là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng. Riêng đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường thì phạt tiền là hình phạt chính có thể áp dụng đối với cả tội rất nghiêm trọng.
- Bộ luật cũng đã mở rộng nội hàm của hình phạt cải tạo không giam giữ, theo đó, trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ với thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Biện pháp này không áp dụng đối với người già yếu, phụ nữ có thai.
- Đối với hình phạt tù, Bộ luật khẳng định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý (khoản 2 Điều 37), theo đó, tại Phần các tội phạm, số lượng các khoản không quy định hình phạt tù tăng từ 06 khoản (theo Bộ luật hình sự năm 1999) lên hơn 30 khoản.
          Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về hạn chế áp dụng hình phạt tử hình. Theo đó, Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác định rõ tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.
- Bộ luật đã bổ sung thêm các trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình. Theo đó, hình phạt tử hình không áp dụng đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử. Đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì không thi hành án tử hình đối với họ. Quy định này nhằm góp phần hạn chế việc thi hành hình phạt tử hình trên thực tế và là thúc đẩy việc thu hồi tài sản bị tham nhũng trong các vụ án tham nhũng.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình ở 08 tội danh gồm:
(1) cướp tài sản (Điều 168);
(2) sản xuất, buôn bán hàng cấm là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193);
(3) tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249);
(4) chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252);
(5) phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303);
(6) chống mệnh lệnh (Điều 394);
(7) đầu hàng địch (Điều 399);
(8) tội hoạt động phỉ (do Bộ luật Hình sự đã bỏ tội danh này).
Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18 tội danh trong tổng số 314 tội danh.
Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với những quy định hết sức chặt chẽ nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm trở về với gia đình và tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã hội bình thường có sự giám sát của chính quyền địa phương và xã hội. Nếu trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước thời hạn cố ý vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới thì phải trở lại cơ sở giam giữ để chấp hành tiếp phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Quy định này góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trong môi trường xã hội.
          Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (Chương XIV) và nhóm các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân (Chương XV) theo hướng tiếp tục tăng cường bảo vệ các quyền con người, quyền công dân trên tinh thần Hiến pháp năm 2013 với những chế tài nghiêm khắc; bổ sung một số quy định mới để xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đồng thời, có chính sách xử lý nghiêm khắc hơn đối với các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân.
          2. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên.
Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, các tội phạm mà người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự là khá rộng và quan trọng hơn là quy định này không rõ ràng, minh bạch, nên bản thân các em không thể hoặc khó có thể biết được chính xác khi nào thì hành vi do mình thực hiện bị coi là tội phạm. Thực tế cho thấy, những trường hợp trẻ em từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi tự mình thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là không nhiều và chủ yếu tập trung vào một số tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, các tội xâm phạm sở hữu, còn lại phần lớn các trường hợp khác các em tham gia thực hiện tội phạm là do bị người lớn xúi giục, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa... Bản thân các em không nhận thức được một cách đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm mà mình đã thực hiện. Vì vậy, việc xử lý hình sự đối với các em trong những trường hợp này có phần quá nghiêm khắc và ít có tác dụng giáo dục, phòng ngừa, giúp các em nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của bản thân.
Kế thừa đồng thời khắc phục những hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ rõ hơn những tội phạm cụ thể mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, theo đó, các em chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ở 28 tội danh trong số 314 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm:
(1) các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người;
(2) các tội xâm phạm sở hữu;
(3) các tội phạm về ma túy;
(4) các tội xâm phạm an toàn công cộng.
Nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên, đáp ứng yêu cầu của Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và các văn kiện quốc tế về tư pháp người chưa thành niên, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự áp dụng riêng cho từng đối tượng người chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi), đồng thời, bổ sung 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự, gồm:
(1) Khiển trách;
(2) Hòa giải tại cộng đồng;
(3) Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
          3. Bộ luật Hình sự năm 2015 tạo cơ chế bảo vệ và thúc đẩy phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
          Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đây là điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong chính sách hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về tội phạm và hình phạt. Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân vào Bộ luật Hình sự xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn và nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra. (Về nội dung cụ thể của chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân sẽ được chuyên gia thuộc Bộ Tư pháp trình bày trong chuyên đề riêng vào buổi chiều ngày hôm nay).
          Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (chương XVIII) theo hướng phi tội phạm hóa đối với 04 tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999, gồm:
(1) Kinh doanh trái phép;
(2) Báo cáo sai trong quản lý kinh tế;
(3) Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;
(4) Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;
Việc loại bỏ 04 tội phạm này khỏi Bộ luật Hình sự nhằm bảo đảm quyền tự do và tự chủ của các chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời phù hợp với tình hình tội phạm thời gian qua.
Bên cạnh đó, cùng với việc bổ sung 18 tội danh mới thuộc 08 nhóm tội phạm khác nhau, Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng bổ sung 16 tội danh mới trong các lĩnh vực kinh tế để kịp thời đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm này.
          Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội phạm về môi trường (Chương XIX) theo hướng cụ thể hóa các hành vi phạm tội gây ô nhiễm môi trường; quy định chế tài nghiêm khắc đối với các tội phạm về môi trường, trong đó có việc tăng mức phạt tiền (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung); đồng thời, bổ sung thêm 02 tội mới (là Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai và Tội vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông).
4. Bộ luật Hình sự năm 2015 tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả trong tình hình mới, góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm
          Thứ nhất, để bảo đảm phù hợp và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiến mới, Bộ luật Hình sự đã phi tội phạm hóa đối với 06 tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999. Đó là các tội:
(1) Tảo hôn;
(2) Kinh doanh trái phép;
(3) Báo cáo sai trong quản lý kinh tế;
(4) Vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;
(5) Sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;
(6) Không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính.
          Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhóm các tội xâm phạm sở hữu (Chương XVI) theo hướng bảo đảm đối xử bình đẳng giữa chính sách xử lý hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước với hành vi xâm phạm tài sản của cá nhân theo tinh thần của Hiến pháp 2013; tăng mức phạt tiền bổ sung đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu; đồng thời, cụ thể hóa hành vi phạm tội, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với các tội phạm thuộc nhóm này, đặc biệt là cụ thể hóa trường hợp xử lý hình sự đối với hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới mức định lượng tối thiểu 02 triệu đồng nhằm góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, nhất là người nghèo (khoản 1 Điều 173).
            Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung một chương riêng (Chương IV) với 07 điều quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, trong đó, tiếp tục duy trì và cụ thể hóa 04 trường hợp như Bộ luật Hình sự năm 1999 gồm:
(1) Sự kiện bất ngờ;
(2) Phòng vệ chính đáng;
(3) Tình thế cấp thiết;
(4) Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự);
Đồng thời, bổ sung thêm 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là:
(5) Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm pháp;
(6) Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ;
(7) Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.
Nội dung sửa đổi này nhằm tạo hành lanh pháp lý an toàn để khuyến khích người dân an tâm, tích cực tham gia phòng chống tội phạm; tham gia các hoạt động sản xuất, nghiên cứu khoa học có tính chất “đột phá” vì lợi ích chung.
          5. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thay thế Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999) bằng một loạt các tội danh cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế
Để bảo đảm tính minh bạch, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung 15 tội danh có tính chất "cố ý làm trái" trong Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Bộ luật Hình sự năm 1999 cho phù hợp với tình hình mới, Bộ luật Hình sự năm 2015 còn bổ sung thêm 09 tội danh mới trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, bao quát các lĩnh vực thường hay xảy ra vi phạm trong hoạt động quản lý kinh tế để thay thế cho Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.
6. Bộ luật Hình sự năm 2015 có những nội dung sửa đổi, bổ sung góp phần tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta
          Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội tham ô, tội nhận hối lộ[1] thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại khoản 3 và khoản 4 của các điều 353, 354). Quy định này nhằm khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là xử lý đến cùng tội phạm tham nhũng, đồng thời góp phần tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng phạm vi xử lý tội tham nhũng ra cả khu vực tư nhân. Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà thực hiện hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ thì cũng bị xử lý về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ theo quy định tại các điều 353, 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, người có hành vi đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước thì cũng bị xử lý về tội đưa hối lộ hoặc tội môi giới hối lộ theo quy định tại các điều 364, 365 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Quy định này nhằm góp phần tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đồng thời, cũng nhằm thực thi Công ước quốc tế về chống tham nhũng mà nước ta là thành viên.
7. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa tối đa các tình tiết định tội, định khung có tính chất định tính, trừu tượng trong cấu thành của hầu hết các tội phạm
Thực hiện khoản 2 Điều 14 của Hiến pháp năm 2013, “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật...” và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; trên cơ sở rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999, lựa chọn những nội dung hướng dẫn về các tình tiết này đã được thực tiễn kiểm nghiệm, khẳng định là còn phù hợp nhằm tăng tính minh bạch, rõ ràng, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã lượng hóa nhiều tình tiết định tính của Bộ luật Hình sự năm 1999 như: “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”; “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”; “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”; “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn” bằng các quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015.
8. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung phù hợp nhằm nội luật hóa các qui định có liên quan của điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên, góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
          Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn bị phạm tội theo hướng bổ sung thêm hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm để thực hiện một tội phạm cụ thể (bên cạnh các hành vi chuẩn bị phạm tội đã được quy định trước đây như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm (Điều 14). Quy định này tạo cơ sở pháp lý để chủ động ngăn chặn sớm tội phạm xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm, đồng thời phù hợp với tinh thần của Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
          Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung cơ bản cấu thành của Tội mua bán người và Tội mua bán người dưới 16 tuổi theo tinh thần Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.[2]
          Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung Tội bắt cóc con tin (Điều 301) và Tội cướp biển (Điều 302) trên cơ sở các quy định của Công ước chống bắt cóc con tin năm 1979 và Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.
          Thứ tư, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung Tội rửa tiền (Điều 324) nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu, các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính về phòng, chống rửa tiền, trong đó đặc biệt chú ý là việc bổ sung chủ thể thực hiện tội phạm là pháp nhân thương mại.
          Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 có những điều chỉnh về mặt kỹ thuật lập pháp theo hướng nâng cao tính minh bạch trong các quy định của Bộ luật Hình sự; bảo đảm tính thống nhất về mặt kỹ thuật giữa Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự và giữa Bộ luật Hình sự với các luật khác.
II. VỀ NHỮNG NỘI DUNG MỚI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG PHẦN CHUNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
1. Về Tội phạm (Chương III)
Chương III của Bộ luật Hình sự năm 2015 có 12 điều (từ Điều 8 đến Điều 19) quy định về chế định tội phạm, bao gồm: khái niệm tội phạm; phân loại tội phạm; cố ý phạm tội; vô ý phạm tội; tuổi chịu trách nhiệm hình sự; phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác; chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; đồng phạm; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, có 04 điều được giữ nguyên (gồm: Điều 10. Cố ý phạm tội; Điều 11. Vô ý phạm tội; Điều 15. Phạm tội chưa đạt và Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội); 01 điều được bổ sung mới Điều 9 về phân loại tội phạm (được tách từ khoản 2 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999) và 07 điều được sửa đổi một cách căn bản, với những nội dung cụ thể như sau:
Điều 8. Khái niệm tội phạm
Khoản 1 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Về cơ bản, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời có bổ sung thêm hai nội dung liên quan đến chủ thể tội phạm và khách thể mà tội phạm xâm hại, cụ thể: (1) cùng với việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vào Bộ luật Hình sự thì trong khái niệm về tội phạm cũng đã bổ sung chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại; (2) Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xác định rõ một trong những khách thể mà tội phạm xâm hại là “quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” nhằm thể hiện tinh thần của Hiến pháp 2013 là đề cao và bảo vệ hơn nữa quyền con người, quyền công dân.
Điều 9. Phân loại tội phạm
Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về phân loại tội phạm được tách ra từ khoản 2 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và cơ bản vẫn giữ nguyên cách phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, theo đó, tội phạm được phân chia thành bốn loại:
(1) tội phạm ít nghiêm trọng;
(2) tội phạm nghiêm trọng;
(3) tội phạm rất nghiêm trọng;
(4) tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Việc phân loại tội phạm theo cách này giúp các nhà làm luật có thể thực hiện được nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự ngay trong luật và đây cũng chính là điều kiện để có thể cá thể hoá trách nhiệm hình sự trong luật và trong thực tiễn áp dụng, đồng thời, là cơ sở để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, để tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và các thời hạn tố tụng cũng như quy định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, cần lưu ý là Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có sự khác biệt trong cách quy định về mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội so với Bộ luật Hình sự năm 1999. Cụ thể là, theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ít nghiêm trọng là đến 03 năm tù, tội nghiêm trọng là đến 07 năm tù và tội rất nghiêm trọng là đến 15 năm tù. Quy định này rất không rõ ràng vì chỉ quy định điểm cuối mà không quy định điểm bắt đầu để xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội, dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho việc xác định loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hay rất nghiêm trọng. (Ví dụ, khoản 1 Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tù đến 05 năm tù; khoản 2 Điều 113 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức phạt tù đến 10 năm tù. Nếu theo cách quy định mức cao nhất của khung hình phạt như trên thì không rõ các trường hợp phạm tội này thuộc loại tội nào). Để góp phần khắc phục bất cập nêu trên, đồng thời tăng tính rõ ràng, minh bạch của Bộ luật, Điều 9 đã quy định rõ điểm bắt đầu để xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội, làm cơ sở để xác định loại tội phạm, theo đó:
- Tội ít nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ mà không có hình phạt tù hoặc là phạt tù đến 03 năm;
- Tội nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 03 năm đến 07 năm tù;
- Tội rất nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
- Tội đặc biệt nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân hoặc tử hình.
Quy định này phân định rõ ranh giới giữa các loại tội, đồng thời, phù hợp với cách quy định các khung hình phạt trong từng tội danh trong Bộ luật Hình sự.
Nhằm triển khai thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung khoản 2 Điều 9 Bộ luật Hình sự quy định phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại. Theo đó, tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện cũng được phân thành 04 loại, cũng dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các khung hình phạt tương ứng tại 33 điều luật quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong phần các tội phạm cụ thể.
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của người dưới 18 tuổi, trên cơ sở quán triệt quan điểm nhân đạo hóa và tăng tính hướng thiện của chính sách hình sự đối với lứa tuổi này trên tinh thần vì lợi ích tốt nhất của các em, quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự đã được sửa đổi một cách cơ bản theo hướng thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi, đặc biệt là đối với lứa tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Điều luật này có hai điểm mới đáng chú ý:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về trách nhiệm hình sự của người từ đủ 16 tuổi trở lên, theo đó, Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đồng thời, đã bổ sung quy định loại trừ: “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” để loại trừ trường hợp điều luật quy định chủ thể đặc biệt nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của phần chung và quy định trong phần các tội phạm cụ thể.
Thứ hai, so với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đồng thời chỉ rõ những tội danh mà các em phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này thể hiện chính sách hướng thiện đối với trẻ em theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời, góp phần nâng cao tính minh bạch của Bộ luật Hình sự, qua đó nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em ở độ tuổi này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 28 tội danh được nêu tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật[3].
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Điều 13 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về cơ bản, quy định này vẫn kế thừa quy định tại Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 1999, nhưng có hai điểm mới cần chú ý:
Một là, thay cụm từ “phạm tội trong tình trạng say” rất chung chung trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bằng các dấu hiệu cụ thể hơn. Đó là “phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.
Hai là, ngoài trường hợp phạm tội do rượu hoặc chất kích thích mạnh khác như Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung trường hợp phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do “bia” - loại đồ uống có cồn mà khi sử dụng nó có thể dẫn đến làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội - thì người phạm tội cũng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quy định này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội để xác định vấn đề trách nhiệm hình sự của họ.
Điều 14. Chuẩn bị phạm tội
Về cơ bản, quy định tại khoản 1 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về chuẩn bị phạm tội, nhưng có ba điểm mới rất quan trọng:
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mở rộng nội hàm khái niệm “chuẩn bị phạm tội” bao gồm cả hành vi “thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ một số trường hợp hành vi này đã cấu thành một tội phạm cụ thể quy định tại Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố) của Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, theo Bộ luật Hình sự năm 1999 thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối hành vi chuẩn bị phạm tội là khá rộng, bao gồm chuẩn bị phạm bất cứ tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng nào được quy định trong Bộ luật Hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội, theo đó, người có hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm 24 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng)[4]. Đây là một điểm mới đáng chú ý của chế định chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật. Việc quy định này giúp cho người dân hoặc những người không am hiểu sâu trong lĩnh vực pháp luật có thể biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt, từ đó, góp phần cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Trên cơ sở quy định này, lần đầu tiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định một khung hình phạt riêng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngay trong điều luật quy định về từng tội danh cụ thể.
Thứ ba, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi đối với hành vi chuẩn bị phạm tội đối với một trong hai tội danh là tội giết người và tội cướp tài sản.
Điều 17. Đồng phạm
Về cơ bản, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa hoàn toàn quy định về đồng phạm tại Điều 20 của Bộ luật Hình sự 1999, đồng thời, có bổ sung thêm một quy định mới “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành (khoản 4 Điều 17).
Theo khoa học Luật hình sự hiện nay, những người đồng phạm bao gồm: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức và người thực hành. Trong đó, Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi xướng việc tội phạm; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm; người giúp sức là người tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần cho việc thực hiện tội phạm; người xúi giục là tác giả tinh thần của tội phạm; Người thực hành, là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, trong một vụ án đồng phạm, người tổ chức và người thực hành được coi là có vai trò quyết định dẫn đến hành vi phạm tội có thực hiện được hay không. Tuy nhiên, từ thực tiễn cho thấy, đôi khi người thực hành lại có hành vi vượt quá, không thực hiện đúng như những gì đã bàn với đồng phạm trước đó. Nếu buộc những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá này thì có nghĩa là buộc họ phải chịu trách nhiệm về những cái mà họ không biết, không có lỗi. Vì vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trong trường hợp này phải loại trừ trách nhiệm cho các đồng phạm để tránh việc quy tội khách quan.
Điều 18. Che giấu tội phạm
Quy định tại khoản 1 Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa toàn bộ nội dung quy định về che giấu tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Điểm mới của điều luật này là đã bổ sung thêm khoản 2 quy định về việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật Hình sự. Điều đó có nghĩa là: Thứ nhất, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng mà che giấu tội phạm cho nhau thì về nguyên tắc không phải chịu trách nhiệm hình sự; chỉ trong trường hợp tội đã phạm là một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật Hình sự thì những người này mới phải chịu trách nhiệm hình sự; Thứ hai, trường hợp những người này che giấu tội phạm cho người khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường.
Quy định này nhằm làm cho Bộ luật Hình sự phù hợp hơn với tâm lý và truyền thống đạo lý gia đình của người Việt Nam, theo đó, thông thường những người trong gia đình luôn có xu hướng che giấu, bao che cho hành vi sai phạm của những người ruột thịt, người vợ, người chồng của mình vì họ không muốn cho người thân của mình phải chịu cảnh tù giam cầm, tù tội.
Điều 19. Không tố giác tội phạm
Bên cạnh việc tiếp tục kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về không tố giác tội phạm, Điều 19 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm. Theo đó, khoản 3 Điều 19 quy định: “Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”.
2. Về Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự (Chương V)
Chương V gồm có 3 điều quy định về hai vấn đề: Một là, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (các điều 27, 28); Hai là, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29).
Nhìn chung, Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa toàn bộ quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự của Bộ luật Hình sự năm 1999. Điểm mới của chương này là mở rộng thêm trường hợp không áp dụng thời hiệu đối với một số tội (trong đó có tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ nếu thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng). Ngoài ra, Bộ luật còn quy định trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo hướng rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, cụ thể:
So với Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có những thay đổi như sau:
Thứ nhất, tên điều luật được đổi thành "Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự". Việc đổi tên điều luật này nhằm phù hợp và phản ánh rõ nội dung của điều luật.
Thứ hai, điều luật phân định rõ hai loại căn cứ miễn trách nhiệm hình sự:
(1) căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 29);
(2) căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (các khoản 2, 3 Điều 29).
Cần lưu ý là theo khoản 1 Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì trường hợp "do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa" là một trong những căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp này được chuyển thành căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 2 Điều 29), tức là trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng phải cân nhắc, xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định miễn hay không miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo.
Thứ ba, khoản 1 Điều 25 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa quy định này nhưng thể hiện lại rõ hơn theo hướng cụ thể hóa khái niệm “do chuyển biến của tình hình” bằng khái niệm “do có sự thay đổi chính sách, pháp luật”, theo đó, trong trường hợp vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nhưng do có sự thay đổi chính sách, pháp luật mà làm cho hành vi phạm tội đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự[5].
Sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có thể là: (1) Bộ luật Hình sự đã phi tội phạm hóa đối với hành vi đó; (2) Tuy hành vi phạm tội vẫn còn quy định trong Bộ luật Hình sự do chưa kịp sửa đổi, bổ sung nhưng pháp luật chuyên ngành về lĩnh vực đó đã có sự thay đổi dẫn đến hành vi đó không còn bị nghiêm cấm nữa. Việc đưa ra xử lý người có hành vi phạm tội này sẽ không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Thứ tư, Bộ luật đã bổ sung thêm 02 căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm:
- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm b khoản 2 Điều 29);
- Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 29).
Thứ năm, quy định chặt chẽ hơn căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát giác. Theo đó, người phạm tội không chỉ tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, mà còn phải là người đã lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt được Nhà nước và xã hội thừa nhận mới được xem xét miễn trách nhiệm hình sự (điểm c khoản 2 Điều 29).
3. Về Các biện pháp tư pháp (Chương VII)
          Chương VII. Các biện pháp tư pháp gồm có 04 điều (từ Điều 46 đến Điều 49) quy định về các biện pháp tư pháp. Điểm mới cơ bản nhất của chương này là việc bổ sung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Còn các nội dung khác cơ bản vẫn giữ như quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (ví dụ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015). Cụ thể như sau:
          Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
          Về cơ bản, nội dung điều luật này vẫn kế thừa nhiều quy định tại Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, chỉ có vài sửa đổi nhỏ về nội dung và kỹ thuật nhằm thể hiện chính xác, cụ thể và khoa học hơn như sau:
          Thứ nhất, về nội dung: Bổ sung thêm 02 đối tượng vật, tiền liên quan đến tội phạm sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy, đó là: (i) khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội và (ii) vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác cũng như đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn áp dụng pháp luật. Đồng thời, bên cạnh hình thức xử lý đối với vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là "tịch thu sung vào ngân sách nhà nước" như quy định tại Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 47 cũng đã bổ sung thêm hình thức xử lý nữa, đó là "tịch thu tiêu hủy" tại khoản 1 để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác và bao quát thực tiễn xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
          Thứ hai, về kỹ thuật: Khoản 1 Điều 47 đã thay cụm từ "sung quỹ nhà nước" bằng cụm từ "sung vào ngân sách nhà nước" để đảm bảo sự chính xác trong cách sử dụng thuật ngữ. Đồng thời tại khoản 3 Điều 47 đã bỏ cụm từ "sung quỹ nhà nước" để đảm bảo sự linh hoạt trong xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm bị tịch thu (có thể bị sung vào ngân sách nhà nước hoặc có thể bị tiêu hủy, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng loại vật, tiền).
          4. Về Quyết định hình phạt (Chương VIII)
          Chương VIII Quyết định hình phạt gồm 10 điều, được thiết kế thành hai mục:
(1) Quy định chung về Quyết định hình phạt, gồm 04 điều (từ Điều 50 đến Điều 53);
(2) Quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể, gồm 06 Điều (từ Điều 54 đến Điều 59).
So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì số lượng các điều luật trong chương này không thay đổi, chỉ được sắp xếp, thiết kế lại thành hai mục rõ ràng hơn.
          Thực tiễn xét xử cũng như quan điểm hướng thiện, bảo vệ quyền con người, bảo vệ những người yếu thế trong xã hội bằng pháp luật hình sự đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung thêm các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mở rộng phạm vi áp dụng đối với các trường hợp quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Mặt khác các vướng mắc trong áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng đòi hỏi phải sửa đổi theo hướng minh bạch, rõ ràng để vừa tháo gỡ vướng mắc vừa thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.
Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, so với Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
          Thứ nhất, bổ sung thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đây:
          - Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ);
          - Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra (điểm l);
          - Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng (điểm p);
          - Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (điểm x).
          Thứ hai, sửa đổi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 theo hướng tạo thêm cơ hội hơn cho người phạm tội được áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Theo đó, tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm" tại điểm q khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi thành "người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án" tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
          Thứ ba, một số tình tiết giảm nhẹ được quy định ghép trong cùng một điểm của khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã gây tranh cãi và không thống nhất về nhận thức là một hay nhiều tình tiết giảm nhẹ. Để góp phần khắc phục bất cập này, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có gắng tách riêng từng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quy định thành những điểm khác nhau; đối với một số ít các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định chung trong cùng một điểm thì Bộ luật đã sử dụng từ “hoặc” thay cho dấu phẩy (,) trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để phân biệt. Ví dụ: điểm a khoản 1 Điều 51 (người phạm tội đã ngăn chặn hoặc giảm bớt tác hại của tội phạm) hoặc điểm b khoản 1 Điều 51 (người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả).
          Thứ tư, khoản 2 Điều 51 bổ sung thêm tình tiết "đầu thú", theo đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, những phải ghi rõ lý do trong bản án. Việc bổ sung quy định này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, khuyến khích những người phạm tội đang trốn tránh ra đầu thú để được hưởng khoan hồng và giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí phục vụ cho việc điều tra, truy nã và sớm kết thúc vụ án.
Về Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, so với Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
          Thứ nhất, sửa cụm từ ‘phạm tội đối với trẻ em’ thành ‘phạm tội đối với người dưới 16 tuổi’; sửa ‘người già’ thành ‘người đủ 70 tuổi trở lên’ (điểm i).
          Thứ hai, bỏ các tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng vì đây là các tình tiết định tội, định khung hình phạt mang tính chất định tính và trừu tượng. Các tình tiết này đã được lượng hóa cụ thể trong các tội phạm và khi đã là tình tiết định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng nữa.
          Thứ ba, bổ sung đối tượng bị xâm hại là "người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức" vào tình tiết tăng nặng quy định tại điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, người phạm tội nếu phạm tội đối với người khuyết tật hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức sẽ bị coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
          Thứ tư, bỏ tình tiết xâm phạm tài sản của Nhà nước. Tuy nhiên, trong Phần thứ hai “Các tội phạm” tình tiết này vẫn là tình tiết định tội, định khung hình phạt của một số tội. Ví dụ, tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 2015).
          Thứ năm, một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định ghép trong một điểm của khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được tách ra và quy định thành các điểm riêng trong khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ví dụ như các tình tiết: Phạm tội 02 lần trở lên (điểm g); tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (điểm h); dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội (điểm m); dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội (điểm n).
          Thứ sáu, sửa tình tiết: “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” thành “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” (điểm o).
          Chú ý: Khác với các tình tiết giảm nhẹ, Tòa án không được coi các tình tiết khác là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Bị cáo quanh co, chối tội, không chịu nhận tội, không thành khẩn khai nhận tội, không ăn năn, hối cải hoặc không khai báo. Tòa án không được coi đó là thái độ “ngoan cố” để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
          Về cơ bản, nội dung của các tình tiết giảm nhẹ hoặc các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã được hướng dẫn tại điểm c Mục 5 hoặc Mục 6 của Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại các điểm đ, l, p, x của khoản 1 Điều 51 hoặc điểm k của khoản 1 Điều 52 thì các Thẩm phán cần nghiên cứu thêm Luật người cao tuổi, Luật Người khuyết tật để hiểu sâu hơn về các quy định mới này.
          Tóm lại, các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt. Áp dụng thừa, thiếu, không đúng nội dung của các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ sẽ dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác và sẽ đặt bản án vào nguy cơ bị sửa, thậm chí bị hủy nếu việc áp dụng các tình tiết này tùy tiện, không có căn cứ.
Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
          Thứ nhất, nội dung quy định tại khoản 1 điều này cơ bản kế thừa Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhưng có chỉnh sửa về mặt kỹ thuật cho rõ hơn theo hướng: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật này”.
          Thứ hai, bổ sung mới khoản 2 của điều luật quy định về trường hợp Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung liên kề, theo đó, “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể”. Đây là một quy định rất mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với những trường hợp người phạm tội lần đầu là người giúp sức, có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm, nhưng bị truy tố và xét xử ở khung hình phạt nặng cùng với các đồng phạm khác. Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì dù có xem xét, khoan hồng tối đa, Tòa án cũng chỉ được phép áp dụng hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn khung hình phạt được áp dụng và hình phạt đó vẫn là quá nghiêm khắc.
          Tuy nhiên, khi áp dụng khoản 2 của điều luật này cần lưu ý là người được áp dụng cũng phải thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 của điều luật tức là họ cũng phải có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
          Thứ ba, khoản 3 Điều này được thiết kế trên tinh thần tách quy định tại đoạn cuối Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 về việc Tòa án quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn, nhưng cụ thể và rõ ràng hơn: “Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.
5. Về Xóa án tích (Chương X)
Xóa án tích được quy định tại Chương X của Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm 5 điều luật (từ Điều 69 đến Điều 73) quy định các vấn đề liên quan đến xoá án tích, các trường hợp không bị coi là có án tích. So với Bộ luật Hình sự 1999, về cơ cấu, số lượng và tên các điều luật không có gì thay đổi. Trong chương này có 04 điều (Điều 69. Xoá án tích; Điều 70. Đương nhiên được xoá án tích; Điều 71. Xoá án tích theo quyết định của Toà ánvà Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích) được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở các điều tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1999 và có 01 điều (Điều 72. Xoá án tích trong trường hợp đặc biệt) được giữ nguyên như quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, ổn định để làm ăn, sinh sống. Nội dung sửa đổi, bổ sung tập trung vào các vấn đề sau đây:
(1) Quy định rõ những trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích;
(2) Rút ngắn thời hạn để được xóa án tích;
(3) Xác định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích sớm hơn so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999;
(4) Bỏ quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận xoá án tích đối với người được đương nhiên xoá án tích, đồng thời, giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận "không có án tích”, nếu họ có đủ điều kiện do luật định;
(5) Bổ sung quy định về xóa án tích trong trường hợp phạm nhiều tội. Cụ thể:
Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án
          Điều này quy định về điều kiện xoá án tích đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXIV (các tội phá hoạt hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh).
          Cũng tương tự như quy định về đương nhiên xóa án tích, những nội dung mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 về xóa án tích theo quyết định của Tòa án tập trung vào ba vấn đề sau:
Thứ nhất, bổ sung cách tính thời hạn xóa án tích đối với người bị kết án phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ , phạt tù có thời hạn nhưng hưởng án treo nhằm khắc phục hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999 là chưa quy định trường hợp này (điểm a khoản 2 Điều 71).
Thứ hai, rút ngắn thời hạn để Toà án xem xét, quyết định xóa án tích từ các mức 3 năm, 07 năm và 10 năm giảm xuống với các mức tương ứng là 03 năm, 05 năm và 7 năm. Theo quy định tại Điều 71 thì trong thời hạn sau đây, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo mà người bị kết án chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới:
- 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;- 03 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
- 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
- 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Thứ ba, xác định rõ thời điểm để tính thời hạn xóa án tích là kể từ thời điểm chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo.
6. Về những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Chương XII)
Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII gồm 18 điều luật (từ Điều 90 đến Điều 107) và chia thành 05 mục:
- Mục 1. Quy định chung về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, gồm 02 điều quy định về áp dụng Bộ luật Hình sự và các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Mục 2. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, gồm 04 điều quy định về điều kiện áp dụng, nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục;
- Mục 3. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, gồm 02 điều quy định về điều kiện áp dụng, nghĩa vụ của người chấp hành án và việc chấm dứt trước thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng;
- Mục 4. Hình phạt, gồm 04 điều quy định về các hình phạt, điều kiện áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;
-Mục 5. Quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xoá án tích, gồm 06 điều quy định về cách thức tổng hợp hình phạt, mức hình phạt trong trường hợp người dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm nhiều tội hay tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; giảm mức hình phạt đã tuyên; điều kiện áp dụng chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện và vấn đề xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi.
So với Bộ luật Hình sự năm 1999 thì Chương XII của Bộ luật Hình sự năm 2015 có những nội dung sửa đổi, bổ sung mới sau đây:
Một là, về thuật ngữ, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” để chỉ đối tượng là người dưới 18 tuổi, thuật ngữ “trẻ em” để chỉ đối tượng là người dưới 16 tuổi, đồng thời, có sự phân hoá trong chính sách xử lý đối với trẻ em và người chưa thành niên là người phạm tội cũng như quy định xử lý nặng hơn khi đối tượng bị xâm hại là trẻ em, người chưa thành niên trong một số cấu thành tội phạm cụ thể (ví dụ: tội giết người, tội mua bán trẻ em, ....). Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “người chưa thành niên” và “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” thay cho thuật ngữ “trẻ em”,...
Hai là, về nội dung, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội nhằm bảo đảm sự phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội được ghi nhận tại các Nghị quyết số 48/NQ-TW và số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, đồng thời bảo đảm sự phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp đối với người chưa thành niên.
Nội dung sửa đổi, bổ sung về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội tập trung vào các vấn đề sau đây:
(1) Tiếp tục hoàn thiện quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội;
(2) Bổ sung các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự;
(3) Hoàn thiện hệ thống chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng tăng cường khả năng áp dụng các chế tài không tước tự do;
(4) Bổ sung các chế định pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại;
(5) Hoàn thiện quy định về xoá án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng. Cụ thể:
a)Về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91)
Điều luật này sửa đổi, bổ sung Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999 theo hướng ghi nhận đầy đủ hơn một số nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định tại Công ước Quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác có liên quan vừa bảo đảm tăng cường hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội, vừa thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các cam kết quốc tế bảo vệ, giáo dục trẻ em nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng, là một nỗ lực tiếp theo trong việc làm hài hòa hệ thống pháp luật quốc gia với Công ước Quyền trẻ em.
Nội dung sửa đổi, bổ sung Điều này tập trung vào 03 vấn đề sau đây:
Thứ nhất, bổ sung nguyên tắc “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi (khoản 1 Điều 91). Đây là nguyên tắc định hướng cho cán bộ tiến hành tố tụng khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý cụ thể đối với người chưa thành niên, nhằm tìm ra biện pháp phù hợp nhất đối với các em. Nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân, khi tiến hành một hoạt động liên quan đến việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định đó là tốt nhất cho trẻ em trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật.
Thứ hai, trên cơ sở kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục:
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật tức là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 28 tội danh mà Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
- Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.
Như vậy, so với Bộ luật Hình sự 1999, khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này.
Một số điểm cần lưu ý khi miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91:
Một là, việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng đối với vụ án, bất kể ở giai đoạn điều tra, truy tố, hay xét xử và do cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc có thẩm quyền áp dụng. Để bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với người chưa thành niên, sớm đưa các em ra khỏi vòng tố tụng, cần xem xét, áp dụng miễn trách nhiệm hình sự càng sớm càng tốt.
Hai là, quy định này không loại trừ việc người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015 khi họ có đủ điều kiện quy định tại Điều này. Một điểm khác biệt giữa hai chế định miễn trách nhiệm hình sự này là miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 đồng nghĩa với việc trả tự do hoàn toàn cho người được miễn trách nhiệm hình sự, trong khi đó, người được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 sẽ phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức trong một thời hạn nhất định tuỳ từng trường hợp cụ thể. Do đó, chỉ miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thứ ba, khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp cận phù hợp hơn trong chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Công ước Quyền trẻ em khẳng định nguyên tắc: “Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em… phải là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Như vậy, cách tiếp cận của Công ước trong việc áp dụng chế tài đối với người chưa thành niên là ưu tiên áp dụng các biện pháp không giam giữ. Các biện pháp mang tính giam giữ và hình phạt tù chỉ được áp dụng khi không còn cách nào khác. Tuy nhiên, theo cách quy định tại khoản 4 Điều 69 của Bộ luật Hình sự năm 1999 "Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này" thì lại thể hiện theo hướng ngược lại, nghĩa là trước tiên Toà án phải cân nhắc việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, chỉ trong trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt thì mới áp dụng biện pháp tư pháp - với tính chất là những biện pháp thay thế hình phạt, nhân đạo hơn đối với người bị kết án.
Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Hình sự 2015 đã thể hiện lại nguyên tắc này theo hướng phù hợp hơn với tinh thần của Công ước về Quyền trẻ em, theo đó, khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc khả năng áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc khả năng áp dụngbiện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với các em và chỉ khi xét thấy việc áp dụng các biện pháp này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt đối với các em. Đồng thời, khoản 6 của điều này cũng quy định rõ Toà án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa và với thời hạn thích hợp ngắn nhất (khoản 6 Điều 91).
b) Về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự 1999 quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng mà gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Tuy nhiên, chế định này cũng bộc lộ nhiều bất cập, ví dụ: thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại cộng đồng, các biện pháp hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, trên thực tế việc miễn trách nhiệm hình sự đồng nghĩa với việc trả tự do vô điều kiện mà không áp dụng bất kỳ các biện pháp giáo dục, phòng ngừa nào, điều này dẫn đến một thực tế là người chưa thành niên có thể tiếp tục tái phạm. Đây là lý do hạn chế việc áp dụng chế định này trong thực tiễn.
Để góp phần khắc phục những bất cập này, đồng thời thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên theo hướng sớm đưa các em ra khỏi vòng tố tụng khi có điều kiện để tránh những tác động tiêu cực không cần thiết, Bộ luật Hình sự năm 2015, đã bổ sung một mục (Mục 2) với 04 điều quy định về 03 biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự, trong đó có 02 biện pháp hoàn toàn mới là khiển trách và hòa giải tại cộng đồng, còn 01 biện pháp là giáo dục tại xã, phường thị trấn được chuyển từ biện pháp tư pháp (theo Bộ luật Hình sự năm 1999) thành một trong những biện pháp giám sát, giáo dục khi được miễn trách nhiệm hình nhằm tăng khả năng áp dụng các biện pháp có lợi hơn cho người chưa thành niên trong thực tiễn. Đây là các biện pháp mang tính giáo dục - phòng ngừa xã hội được áp dụng nhằm mục đích chính là giúp cho các em nhận rõ được lỗi lầm, có thái độ ăn năn hối cải, khắc phục sai phạm.
Cụ thể như sau:
Về Điều 93. Khiển trách
Khiển trách là một trong ba biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ để sửa chữa lỗi lầm, khắc phục hậu quả và cải tạo để trở thành người có ích. Điều 93 quy định việc áp dụng biện pháp khiển trách như sau:
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Khiển trách chỉ áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự; (2) người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện việc khiển trách. Việc khiển trách đối với người phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người phạm tội.
Thứ ba, về nghĩa vụ của người bị khiển trách: Để tăng cường hiệu quả phòng ngừa tái phạm, khoản 3 Điều 93 quy định cụ thể các nghĩa vụ mà người bị khiển trách phải thực hiện như tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Thời gian thực hiện các nghĩa vụ này từ 3 tháng đến 01 năm tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Về Điều 94. Hoà giải tại cộng đồng
Điều 94 quy định về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng cũng như nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng.
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Hòa giải chỉ áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng  hoặc tội nghiêm trọng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự; (2) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, về nghĩa vụ của người dược áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng: Người dược áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau: xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Cơ quan có thẩm quyền ấn định thời điểm xin lỗi và thời gian thực hiện các nghĩa vụ này từ 3 tháng đến 01 năm tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Về Điều 95. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Điều 95 quy định điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng và nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự; (2) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn từ 01 năm đến 02 năm và giao người được miễn trách nhiệm hình sự cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc giám sát, giáo dục.
Thứ ba, về nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải thực hiện các nghĩa vụ: chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
Thứ tư, về việc chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục: Để khuyến khích người được giám sát, giáo dục cải tạo tốt, khoản 3 Điều 95 của Bộ luật Hình sự quy định trường hợp người được giáo dục đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục.
c) Về biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Mục 3 gồm 2 điều (Điều 96 và Điều 97) quy định về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và việc chấm dứt trước thời hạn biện pháp này. Điểm mới về biện pháp tư pháp áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội là theo Bộ luật Hình sự năm 2015 thì chỉ còn 01 biện pháp tư pháp, đồng thời tên biện pháp tư pháp này được đổi từ ”đưa vào trường giáo dưỡng” thành ”giáo dục tại trường giáo dưỡng” cho phù hợp hơn.
Về bản chất của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, điều kiện áp dụng, thủ tục áp dụng, hậu quả pháp lý cũng như việc chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cơ bản được giữ nguyên như quy định của Bộ luật Hình sự 1999 về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
d) Về hệ thống hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Mục 4 gồm 04 điều (từ Điều 98 đến Điều 101) quy định về các hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Về cơ bản các quy định này của Bộ luật Hình sự năm 2015 không có gì thay đổi so với quy định của Bộ luật Hình sự 1999.
          Riêng hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 100) đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể hóa và mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt này đối với cả trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý, phạm tội nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng và trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhằm tăng cường khả năng áp dụng chế tài không tước tự do đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
e) Về việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xóa án tích
          Nội dung sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Hình sự về quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt và xóa án tích tập trung vào các điều khoản sau đây:
Điều 107. Xóa án tích
Xóa án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 bao gồm hai hình thức như đối với người đã thành niên. Đó là đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. So với người đã thành niên phạm tội thì các quy định này chỉ có một điểm khác là thời hạn đương nhiên xóa án tích đối với người chưa thành niên thấp hơn so với người đã thành niên.
Điều 107 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến quy định về xoá án tích đối với người chưa thành niên:
Thứ nhất, quy định rõ 03 trường hợp người chưa thành niên bị kết án được coi là không có án tích (khoản 1):
(1) người bị kết án là người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
(2) người bị kết án là người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý;
(3) người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Thứ hai, quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng chỉ áp dụng hình thức đương nhiên xoá án tích (khoản 2).
Thứ ba, quy định rõ điều kiện để người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được đương nhiên xoá án tích là không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới (khoản 2):
- 06 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
- 01 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
- 02 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
- 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.
Trên đây là một số nội dung sửa đổi lớn và những điểm mới sửa đổi, bổ sung trong Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015./.
 

[1] Xem thêm Điều 28 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[2]  Xem (Điều 150 và Điều 151).
[3] Theo đó, các em phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc 26 tội danh, còn đối với 03 tội danh khác (cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) thì các em phải chịu trách nhiệm hình sự kể cả trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Như vậy, theo quy định này, riêng đối với 03 tội danh này thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mở rộng hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999.
[4] Theo khoản 2 Điều 14 thì người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự:
- Điều 108 (tội phản bội Tổ quốc); Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân); Điều 110 (tội gián điệp); Điều 111 (tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (tội bạo loạn); Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (tội phá rối an ninh); Điều 119 (tội chống phá trại giam); Điều 120 (tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 121 (tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);
- Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);
- Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản);
- Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); - -- Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền).
[5] Xem thêm điểm a khoản 1 Điều 29.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
VĂN BẢN MỚI

Chỉ thị 05/CT-VKSTC

Chỉ thị 05/CT-VKSTC,ngày 15/5/2018

Lượt xem:42 | lượt tải:19

Nghị định - Thông tư liên quan đến thực hiện chức

Nghị định - Thông tư liên quan đến thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành

Lượt xem:55 | lượt tải:13

Báo cáo Họp giao ban trực tuyến tháng 3/201

Báo cáo Họp giao ban trực tuyến tháng 3 và chương trình tháng 4/2018

Lượt xem:45 | lượt tải:13

Thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Viện trưởng.

Thông báo ý kiến chỉ đạo của đồng chí Viện trưởng tại Họp giao ban trực tuyến 20/4/2018

Lượt xem:45 | lượt tải:16

Lịch làm việc (23/4 - 27/4)

Lịch làm việc (23/4 đến 27/4/2018)

Lượt xem:46 | lượt tải:13
PHẦN MỀM LIÊN KẾT
THÔNG TIN TRUY CẬP
  • Đang truy cập30
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm29
  • Hôm nay1,405
  • Tháng hiện tại23,066
  • Tổng lượt truy cập244,368

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây